Friday, May 23, 2014

Tuyên bố chân thực về cam kết tôn trọng quyền con người

QĐND - Trong cuộc gặp gỡ báo chí chiều 18-2, Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết, Báo cáo quốc gia của Việt Nam tại phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II tại Hội đồng Nhân quyền LHQ được đánh giá là “một tuyên bố chân thực về cam kết tôn trọng quyền con người”.
Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc. Ảnh: Thừa Phạm

- Xin Thứ trưởng cho biết những điểm chính trong Báo cáo quốc gia của Việt Nam tại Phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II về tình hình thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản tại Hội đồng nhân quyền LHQ?
- Báo cáo của Đoàn ta đã giới thiệu khái quát và toàn diện những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam trong 4 năm rưỡi qua, kể từ phiên Rà soát chu kỳ I vào tháng 5-2009. Báo cáo cũng đề cập rất rõ những nỗ lực của chúng ta trong thực hiện nghiêm túc, tích cực 96 khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp thuận vào năm 2009. Kết quả đạt được thể hiện rất rõ và sinh động trên tất cả các mặt đời sống xã hội.
Điểm nổi bật nhất là Việt Nam đã hoàn thiện các hệ thống văn bản pháp lý, các chế độ, cơ chế, chính sách liên quan đến việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người. Bên cạnh đó, chúng ta đã thực hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ, trong đó có vấn đề xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế. Ngoài ra, chúng ta cũng bảo đảm tốt hơn các quyền tự do cơ bản cho người dân, đặc biệt chú ý đến các nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương. Đồng thời chúng ta cũng tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền: Trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ (được bầu với số phiếu cao), tham gia nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, đón các Thủ tục Đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền thăm Việt Nam, tiến hành đối thoại nhân quyền thường niên với nhiều đối tác cũng như đóng góp vào cơ chế nhân quyền của ASEAN…
Bên cạnh những thành tựu, Báo cáo cũng đề cập tới những thách thức, khó khăn mà Việt Nam đã vượt qua và xác định những ưu tiên của Việt Nam trong việc tiếp tục thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
Tôi xin nêu ra một nhận xét của đoàn Bosnia-Hezergovina và cũng là ý kiến của một số đoàn khác khi họ chia sẻ đánh giá về Báo cáo UPR của Việt Nam: “Báo cáo UPR của Việt Nam là một tuyên bố chân thực về cam kết tôn trọng quyền con người”.
- Sau khi Việt Nam trình bày báo cáo, các nước đã đưa ra nhiều khuyến nghị đối với Việt Nam. Vậy xin Thứ trưởng cho biết khuyến nghị của các nước tập trung vào những vấn đề gì và có những điểm nào mới so với các khuyến nghị đưa ra năm 2009? Quan điểm của Việt Nam với những khuyến nghị đó như thế nào?
- Có 106 nước đã tham gia đối thoại, nhiều nước trong đó đã đưa ra các khuyến nghị. Sau phiên rà soát, Việt Nam đã nhận được 227 khuyến nghị. Điểm mới so với chu kỳ I là các khuyến nghị lần này ngắn gọn, cụ thể hơn, điều này sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình thực hiện sau này. Những khuyến nghị này đề cập tới tất cả các lĩnh vực liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Về cơ bản các khuyến nghị là tích cực và mang tính xây dựng. Ngay sau khi nhận được các khuyến nghị, đoàn ta gồm đại diện 11 bộ, ban, ngành đã họp và rà soát. Đoàn đánh giá sơ bộ: Phần lớn các khuyến nghị là có thể chấp nhận được vì phù hợp với đường lối đổi mới và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thực tiễn về nhân quyền ở Việt Nam. Đó sẽ là sự bổ sung hữu ích, giúp chúng ta có thể xác định rõ hơn những ưu tiên thúc đẩy về vảo vệ quyền con người.
Tuy nhiên, cũng còn một số khuyến nghị còn thiếu cơ sở, chưa phản ánh được đúng tình hình thực tiễn một cách khách quan của Việt Nam hoặc thể hiện định kiến. Những khuyến nghị này chúng ta không chấp thuận. Theo lộ trình, các bộ, ngành sẽ rà soát kỹ từng khuyến nghị, trong khóa họp lần thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền LHQ vào tháng 6 tới, Việt Nam sẽ chính thức thông báo các khuyến nghị được chấp thuận.
- Sau khi trúng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ và lần rà soát định kỳ này, trách nhiệm của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo đảm thực hiện quyền con người ở cả trong nước và trên quốc tế ngày càng cao. Chúng ta cần làm gì để thực hiện tốt hơn nữa việc bảo đảm quyền con người tại Việt Nam cũng như hoàn thành các trách nhiệm quốc tế của mình trong lĩnh vực này?
- Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở trong nước, đồng thời tích cực tham gia hợp tác quốc tế để thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn thế giới. Những thành tựu của chúng ta đã được quốc tế công nhận cùng với những nỗ lực hợp tác rất thiết thực trên diễn đàn quốc tế chính là cơ sở để các nước bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao.
Trên phạm vi quốc gia, chúng ta cần tiếp tục những nỗ lực, biện pháp, chính sách, nguồn lực để đảm bảo tốt hơn quyền của người dân. Đồng thời phải thực hiện những cam kết tự nguyện mà chúng ta đưa ra khi ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ.
Trên phạm vi quốc tế, hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ, chúng ta sẽ tham gia một cách tích cực, chủ động, có trách nhiệm, góp phần làm cho cơ quan này hiệu quả hơn, minh bạch hơn, khách quan hơn và thúc đẩy tinh thần đối thoại và hợp tác trong khuôn khổ Hội đồng nhân quyền LHQ. Chúng ta cũng sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với các nước và học hỏi kinh nghiệm phù hợp của các nước; đồng thời đóng góp vào những vấn đề lớn mà các nước quan tâm, nhất là các nước đang phát triển, liên quan đến các quyền kinh tế, xã hội. Việt Nam cũng sẵn sàng phối hợp với các nước, các đối tác quốc tế khác thúc đẩy những vấn đề, sáng kiến mới được sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.
-  Trong thời gian tới, những ưu tiên và cam kết trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người của Việt Nam sẽ tập trung vào những lĩnh vực nào?
- Mặc dù còn những khó khăn và những thách thức, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước ta là sẽ cố gắng vượt qua những thách thức, khó khăn đó. Chúng ta sẽ nghiêm túc thực hiện những khuyến nghị UPR chu kỳ II mà chúng ta chấp thuận trong thời gian tới. Tôi cho rằng đây là cam kết cao nhất của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế.
Trên tinh thần đó, tôi cho rằng chúng ta cần ưu tiên 5 lĩnh vực sau:
Thứ nhất, chúng ta cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản luật, các cơ chế chính sách liên quan đến quyền con người, làm sao cho tương thích với những nội dung mới của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền dân sự đồng thời thực hiện các cam kết mà chúng ta nêu ra với cộng đồng quốc tế.
Thứ hai, tiếp tục huy động các nguồn lực cho các chương trình quốc gia, chương trình chiến lược liên quan đến bảo đảm an sinh xã hội, nhất là với những đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế như người già, người tàn tật, phụ nữ, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đẩy mạnh chống tham nhũng, quan liêu và đặc biệt là mở rộng dân chủ cơ sở, tăng cường nhà nước pháp quyền, tăng cường các thể chế quốc gia bảo đảm  quyền con người, đặc biệt hạn chế đến mức tối đa những vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền của người dân.
Thứ tư, quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu Mục tiêu Thiên niên kỷ về phát triển.
Cuối cùng, cần nâng cao đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo về quyền con người, tạo điều kiện cho người dân tham gia một cách tích cực hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn vào quá trình hoạch định cũng như triển khai chính sách. Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là quá trình lâu dài, đòi hỏi những nổ lực liên tục, trong đó cũng khẳng định mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế cam kết của Chính phủ về thúc đẩy quyền con người.
Xin cảm ơn Thứ trưởng!
THU TRANG (ghi)

Nhân quyền thể hiện cụ thể qua cuộc sống của người dân

"Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao. Nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người". Ðó là ý kiến trong bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng từ CHLB Ðức gửi Báo Nhân Dân, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Những tháng cuối năm 2013, thông tin từ Việt Nam đã đem đến cho tôi nhiều niềm vui, nhưng cũng có nỗi buồn. Buồn vì trận bão Haiyan gây thiệt hại rất lớn cho nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có quê tôi. Tôi biết mỗi lần thiên tai như vậy, Nhà nước lại huy động một lượng tiền của, hàng hóa rất lớn để cứu trợ kịp thời, sau đó là tái thiết cơ sở hạ tầng bị tàn phá, giúp đỡ gia đình bị thiệt hại nhanh chóng ổn định cuộc sống. Ðó là biện pháp cấp tốc và lâu dài mà từ rất lâu rồi tôi đã nhận thấy trong chính sách kinh tế - xã hội nhất quán của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Nhưng, lại có rất nhiều tin vui. Một trong số đó là thông tin ngày 12-11-2013, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới, và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Với các tổ chức, cá nhân luôn lợi dụng vấn đề nhân quyền để phê phán hay chống phá Việt Nam thì sự kiện này là một thất bại rất lớn của họ. Từ việc ghi nhận các thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn những quyền của người dân trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo và tín ngưỡng,... cộng đồng quốc tế đã tin cậy và bầu Việt Nam vào một tổ chức quan trọng của LHQ.
Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao, nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người. Ðể đánh giá về nhân quyền, cần có cách nhìn khách quan, đặt trong hoàn cảnh cụ thể với điều kiện đặc thù riêng ở mỗi nước. Suy nghĩ và nhận thức của tôi về nhân quyền thay đổi theo tuổi đời và sự trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống. Nhớ thời còn đi chân đất đến trường ở quê tôi, một vùng biển Thanh Hóa thường xuyên có bão, lụt. Một tối, nghe Ðài Phát thanh tiếng nói Việt Nam đưa tin sóng biển có thể dâng cao, mọi người trong vùng đều lo lắng, cố gắng triển khai công việc phòng chống. Nhìn đoàn thuyền, bè, mảng làm bằng những cây luồng to mà các anh chị dân quân để ngay trước nhà, mẹ tôi bảo thế là yên tâm rồi. May mắn là năm đó sóng biển không cao lắm, nhưng tôi biết nếu tình huống xấu xảy ra, gia đình tôi cũng như mọi gia đình khác sẽ được chính quyền giúp đỡ một cách nhanh chóng. Giờ nhìn lại tôi nghĩ, đó là hành động thiết thực của chính quyền nhằm bảo vệ nhân quyền của người dân. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại miền bắc của đế quốc Mỹ, có năm nước sông Hồng lên cao, Thủ đô Hà Nội có thể bị ngập, tính mạng của hàng vạn người bị đe dọa nghiêm trọng, vì một số đoạn trong hệ thống đê điều từng bị bom phá hỏng. Vào thời điểm đó, người Mỹ tuyên bố không úp mở là sẽ ném bom "đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá". Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực hết sức để giúp nhân dân vượt qua thiên tai hiểm nghèo, khắc phục hậu quả bão lụt, vừa vận động nhân dân thế giới ngăn chặn hành động có tính chất hủy diệt, như ném bom đê điều. Tôi nghĩ đó cũng để bảo vệ quyền quan trọng nhất trong nhân quyền - là quyền được sống.
Từ năm 1972 đến năm 1975, tôi là chiến sĩ của QÐND Việt Nam đã trực tiếp chiến đấu tại tuyến đầu của mặt trận Quảng Trị. Tại đây, tôi đã tận mắt chứng kiến những trận bom rải thảm, những trận pháo kích có tính hủy diệt của "pháo đài bay" B52 và tàu chiến Hạm đội 7 Hoa Kỳ từ Biển Ðông. Ở đó, tôi không chỉ bị sức ép của bom, pháo mà còn rất nhiều lần khó thở đến ngất xỉu tưởng không tỉnh lại được vì đối phương sử dụng đạn pháo hóa học chứa hơi cay. Tôi đã đi qua những khu rừng bị hủy hoại do chất độc màu da cam của quân đội Mỹ rải xuống. Cũng ở đó, tôi đã từng chứng kiến những cái chết, gặp những người mẹ, người chị, những em bé cơ thể mang thương tích vì mảnh bom, pháo, bị vướng mìn của quân đội Mỹ và Sài Gòn. Thế mà nay lại có kẻ bịa đặt rồi làm rùm beng các sự kiện không có trong thực tế để vu cáo "Hà Nội vi phạm nhân quyền". La lối như vậy, họ cố tình quên ai là người mang bom đạn đến Việt Nam, và cố tình quên nhiều người dân Việt Nam chết hoặc bị thương do bom mìn còn sót lại; nhiều người phải chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Họ cố tình làm như không biết là hiện nay, Nhà nước Việt Nam vẫn đang phải huy động nhiều sức người, tiền của để giải quyết hậu quả của chiến tranh xâm lược, như bom mìn chưa nổ, các khu vực còn ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Tôi nghĩ, giải quyết hậu quả chiến tranh cũng là hành động vì nhân quyền, đấu tranh đòi các công ty hóa chất ở Hoa Kỳ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân chất độc màu da cam cũng là hoạt động vì nhân quyền. Sau khi nước nhà thống nhất, Việt Nam bị cấm vận một thời gian dài, kinh tế khó khăn, Nhà nước không có đủ điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Dù hôm nay đã chấm dứt, thì vẫn phải nói rằng cấm vận là một việc làm rất vô nhân đạo, cản trở sự phát triển, không tạo điều kiện, cơ hội để Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chủ trương "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", tôi nhắc lại một vấn đề của quá khứ không phải là để khơi dậy hận thù, mà để nói rằng đang có những người đạo đức giả trong khi một mặt hò hét đấu tranh cho nhân quyền, yêu cầu "Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền", thì mặt khác họ lại tảng lờ tình trạng trong thời gian rất dài nhiều người bệnh ở Việt Nam không đủ thuốc điều trị, nhiều nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin đang sống trong bất hạnh, đau đớn, nhiều gia đình Việt Nam đói nghèo vì hậu quả của chiến tranh.
Tôi nghĩ, vì nhân quyền là tổng thể các quan hệ xã hội trực tiếp, cụ thể liên quan đến việc thực thi quyền con người, đồng thời lại liên quan chặt chẽ với quan niệm của mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa, nên có cảm nhận khác nhau từ góc độ quan sát của mỗi người. Nhận thức này tôi có được sau một lần cùng gia đình đi du lịch ở Dominica - một quốc đảo ở vùng Caribe (gần Hoa Kỳ) và có nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Kết thúc chuyến du lịch, tôi hỏi con gái và con trai, cả hai đều sinh ra rồi lớn lên ở CHLB Ðức: "Hai con thấy chuyến đi có thú vị không?" và câu trả lời của các cháu là: "Phong cảnh và thế giới thực vật giống hệt như quê nội". Ðối với tôi, qua chuyến đi tôi lại có điều kiện so sánh và càng thấy Nhà nước Việt Nam rất quan tâm tới đời sống của mọi người dân, phần lớn người dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn hiện đã có cuộc sống khấm khá hơn nhiều. Ðưa con về thăm quê hương, tôi kể cho các con tôi chuyện quê nội bị tàn phá như thế nào trong chiến tranh phá hoại của người Mỹ. Các con tôi đều muốn đến thăm ngôi trường lần đầu tiên tôi đi học, ngôi trường nhỏ bé của tôi ngày trước đã được thay thế bằng những khu nhà mới rộng rãi và khang trang. Về nước đi thăm nhiều nơi nên tôi biết, sau chiến tranh hầu như mọi trường học, bệnh viện, bưu điện,... đều được xây mới. Nhiều quan sát khác của các con tôi sau mỗi lần về thăm Việt Nam làm cho tôi hiểu thêm rằng, không nên máy móc lấy các con số (thí dụ là về tiền bạc) để đánh giá sự phát triển nhân quyền ở một quốc gia. Một lần về quê, con gái tôi hồn nhiên nói về một chi tiết khiến tôi phải suy nghĩ, cháu nói: "Ở chợ Việt Nam, khi không có khách hàng, những người bán hàng thường hay đếm tiền và con thấy nét mặt họ rất rạng rỡ. Qua nét mặt cũng thấy họ rất vui với những gì họ có được. Ðể có suy luận đó, con tôi cũng từng chứng kiến ở CHLB Ðức cảnh những người dân nhận tiền trợ cấp xã hội hằng tháng, nét mặt buồn thiu khi cầm trong tay 500 ơ-rô - một lượng tiền không nhỏ với một số gia đình nông dân Việt Nam. Các bà, các chị bán hàng ngồi đếm những đồng tiền có thể là không nhiều, nhưng họ có niềm vui, đó là niềm vui từ lao động. Nó giúp tôi hiểu thêm rằng nếu chỉ lấy đồng tiền làm thước đo sẽ không thể hiểu tại sao Hàn Quốc là quốc gia có mức sống không kém phương Tây, nhưng số người tự tử nhiều thứ hai thế giới; Ðan Mạch được xếp hạng nhất trên thế giới về bình quân thu nhập, nhưng ở đó số lượng người tự tử cao nhất trong khu vực Bắc Âu?
Ðảng và Nhà nước đã và đang đề ra, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HÐH, hội nhập quốc tế. Vì thế, vấn đề không phải là nước này, tổ chức quốc tế kia đánh giá hay bình chọn, vì người dân và cuộc sống con người luôn luôn là chủ thể, là mục tiêu cụ thể của mọi chính sách và hành động. Một việc làm thiết thực gần đây là sự phát triển quan trọng liên quan đến quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi. Từ sự kiện này, tôi càng tin đất nước ta sẽ tiếp tục đạt được nhiều thắng lợi trong thúc đẩy các giá trị quyền con người, người dân ngày càng được hưởng tốt hơn các giá trị vật chất, tinh thần do xã hội đem lại. Ðó là bằng chứng chứng minh sự đúng đắn của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong việc xác định mục tiêu kinh tế - xã hội và quyết tâm cùng toàn dân hành động để đạt tới mục tiêu.

HỒ NGỌC THẮNG (CHLB ÐỨC)

Hội đồng Nhân quyền đánh giá cao báo cáo kiểm điểm định kỳ phổ quát của Việt Nam

QĐND - Kiểm điểm định kỳ phổ quát (Universal Periodic Review - UPR) là một quy trình đánh giá định kỳ (4 năm một lần) về tình hình nhân quyền đối với tất cả các thành viên của Liên hợp quốc (hiện nay có 193 nước). Có thể nói, quy trình UPR là một sáng kiến của Hội đồng Nhân quyền, so với Ủy ban Nhân quyền trước đây - đó là quy trình đánh giá dựa trên nguyên tắc đối xử bình đẳng với tất cả các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc (LHQ). Mục đích cuối cùng của UPR là chia sẻ kinh nghiệm, cải thiện tình trạng nhân quyền ở mỗi quốc gia và với cộng đồng quốc tế. Quy trình UPR còn nhằm mục đích hỗ trợ về chuyên môn, nâng cao khả năng giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề nhân quyền của mình.
Năm 2009, Việt Nam đã thực hiện Báo cáo lần thứ nhất theo cơ chế UPR. Năm nay, Việt Nam thực hiện Báo cáo chu kỳ thứ II. Phiên họp diễn ra vào ngày 5-2-2014 tại Hội đồng Nhân quyền ở Geneve (Thụy Sĩ). Cùng thực hiện Báo cáo với Việt Nam lần này còn có 13 quốc gia khác. Theo thủ tục (bốc thăm), 3 nước chủ tọa phiên Báo cáo của Việt Nam là: Kenya, Kazakhstan và Costa Rica.
Vào những ngày trước khi Việt Nam thực hiện Báo cáo tại phiên họp lần thứ 18 Hội đồng Nhân quyền, nhiều nhóm, cá nhân có “thành tích” kỳ thị, chống phá Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cả tổ chức khủng bố như “Đảng Việt Tân” đã tụ tập ở Geneve (Thụy Sĩ) tổ chức nhiều hoạt động nhằm xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những kiến nghị phi lý. Chẳng hạn, họ cho rằng quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do internet ở Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng; rằng Điều 88, Điều 79, Bộ luật Hình sự, 1999 được sử dụng một cách tùy tiện… Thậm chí, có kẻ còn đòi tha bổng tất cả các “tù nhân lương tâm”, “những tù nhân bất đồng chính kiến”…
Mục đích của họ là nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trong con mắt của cộng đồng quốc tế, đồng thời khuyến khích những hoạt động chống phá Việt Nam ở trong và ngoài nước. Không có quyền phát biểu trong hội nghị, họ đã tìm mọi cách tác động đến đại diện của các quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền, kể cả Chủ tọa phiên họp.
Phát biểu làm rõ thêm văn bản Báo cáo đã gửi tới các đại biểu, Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết, Việt Nam đã và đang tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quyền con người, trong đó có Chương II (Hiến pháp sửa đổi 2013) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân; bổ sung và ban hành Luật Báo chí, Luật Đất đai, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Người khuyết tật, Luật Luật sư… Những điều bổ sung, hoàn thiện trong các quy định của pháp luật đều nhằm bảo vệ các quyền của công dân, tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý minh bạch, vững chắc để người dân có thể bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Về một số quyền được nhiều đại biểu quan tâm, trong đó có quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do internet. Ông Hà Kim Ngọc cho biết, trong điều kiện của một nước còn nghèo, với sự quan tâm của Nhà nước hiện nay ở Việt Nam có tới hơn 30 triệu người sử dụng internet, phương tiện thông tin đại chúng phát triển nhanh chóng, các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện chủ trương chính sách tại Quốc hội, diễn đàn, blog diễn ra sôi nổi... Về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Báo cáo của Việt Nam làm rõ những cố gắng lớn của Nhà nước trên lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, bảo đảm các quyền tự do cơ bản của người dân, đặc biệt chú ý tới các nhóm dễ bị tổn thương...
Sau phần trình bày ngắn gọn của Trưởng đoàn Việt Nam, đã diễn ra cuộc đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa các đại biểu Hội đồng Nhân quyền, đại biểu các quốc gia có mặt tại hội nghị với đoàn Việt Nam.
Trước hết, các đại biểu tham gia hội nghị đã đánh giá cao Việt Nam trong việc chuẩn bị Báo cáo. Việt Nam đã thực hiện một cách nghiêm chỉnh các khuyến nghị từ Hội nghị kiểm điểm lần thứ nhất (năm 2009); việc soạn thảo Báo cáo được thực hiện bởi Nhóm công tác liên ngành gồm các cơ quan thuộc Chính phủ và Quốc hội liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy các quyền con người. Trong thời gian chuẩn bị Báo cáo nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai ở các cấp, các ngành nhằm xác định những nội dung chủ yếu, những lĩnh vực ưu tiên,… trong đó có các khuyến nghị mà cộng đồng quốc tế đã lưu ý trong Hội nghị Báo cáo lần đầu. Không ít ý kiến đã đề cập tới trọng trách của Việt Nam với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ trong nhiệm kỳ, mở đầu từ năm 2014.
Nhiều ý kiến cho rằng, Báo cáo của Việt Nam đã cung cấp đầy đủ các thông tin “đa chiều”; đánh giá cao Việt Nam đã thu hút sự tham gia đóng góp của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp và của người dân; đã tổ chức tham vấn, đối thoại nghiêm túc giữa Chính phủ với nhiều bên liên quan trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam”… Điều này thể hiện rõ sự nghiêm túc của Việt Nam đối với Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát-UPR.
Thứ hai, về những thành quả bảo đảm quyền con người, các đại biểu đánh giá tích cực việc Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc 96 khuyến nghị tại Hội nghị kiểm điểm định kỳ năm 2009 trong đó có việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là đưa quyền con người vào Chương II, Hiến pháp mới (2013). Có ý kiến đánh giá cao Việt Nam đã ký “Công ước chống tra tấn” và mong muốn Việt Nam sớm phê chuẩn Công ước này. Nhiều đại diện ở các nước đang phát triển đánh giá cao thành quả của Việt Nam trong việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển bền vững và quan tâm đến các nhóm dễ bị tổn thương; về đích sớm nhiều Mục tiêu thiên niên kỷ.
Thứ ba, trên lĩnh vực hợp tác quốc tế, nhiều đại biểu đánh giá cao Việt Nam trong việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ và sẵn sàng đối thoại nhân quyền thường niên với các đối tác, đóng góp tích cực vào cơ chế nhân quyền ASEAN...
Mặc dù đã đánh giá tích cực đối với Báo cáo của Việt Nam, song các đại biểu Hội đồng Nhân quyền và đại biểu một số quốc gia tại hội nghị đã nêu nhiều khuyến nghị. Trong đó có những nội dung cơ bản sau: Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc cải cách tư pháp, pháp luật; thúc đẩy quyền tự do ngôn luận, báo chí; tự do tôn giáo; mời thêm các Thủ tục Đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền LHQ tới Việt Nam và tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền của LHQ, trong đó có các Cơ quan Công ước. Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam đã cảm ơn và ghi nhận những khuyến nghị này.
Nhiều nước cũng khuyến nghị Việt Nam tăng cường chia sẻ kinh nghiệm đổi mới, đảm bảo quyền của các nhóm yếu thế (như trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi, dân tộc thiểu số), đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm… trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Đại diện các nước ASEAN hoan nghênh những đóng góp của Việt Nam vào việc thành lập và hoạt động của Ủy ban liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền, khuyến nghị Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực vào việc thực hiện “Tuyên bố Nhân quyền ASEAN”.
Về phía mình, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam chia sẻ quan điểm với nhiều nước cho rằng: “Các quyền con người là phổ quát, không thể tách rời, phụ thuộc và liên quan lẫn nhau; việc thúc đẩy và bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người là trách nhiệm hàng đầu của các quốc gia; trong quá trình thực hiện cần tính đến các yếu tố đặc thù của quốc gia và khu vực, cũng như các hoàn cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Trên tinh thần đó, trong những năm vừa qua, Nhà nước Việt Nam, với việc coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, luôn nhất quán trong việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, đã chú trọng thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; đồng thời coi trọng việc phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy công bằng và an sinh xã hội”.
Việt Nam cũng thừa nhận rằng, “tuy đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn nhiều khó khăn thách thức phải tiếp tục phấn đấu giải quyết”. Trong thời gian tới, những ưu tiên và cam kết trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người tập trung vào những lĩnh vực sau: “Tăng cường công tác kiện toàn hệ thống pháp luật trên nguyên tắc phát huy nhân tố con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân, bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế. Tập trung các chính sách để tăng khả năng tiếp cận quyền của các nhóm yếu thế nhất là với hệ thống an sinh xã hội, nghiên cứu khả năng phát triển loại hình bảo hiểm nông nghiệp…
Mặc dù có những lực lượng chống phá, phiên trình bày Báo cáo quốc gia của Việt Nam trong khuôn khổ cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, chu kỳ II-UPR đã thành công tốt đẹp. Với tinh thần đối thoại cởi mở, thẳng thắn và có trách nhiệm, kết quả phiên họp đã tạo thêm vị thế chính trị, pháp lý quốc tế vững chắc của Việt Nam và làm phong phú thêm kinh nghiệm để Nhà nước ta tiếp tục bảo đảm tốt hơn nữa các quyền và tự do cơ bản của nhân dân Việt Nam.

BẮC HÀ - THÀNH NAM

Việt Nam có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chung vì quyền con người

QĐND - Từ ngày 2 đến 9-2, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc sẽ dẫn đầu đoàn liên ngành của Việt Nam tham dự phiên bảo vệ báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II của Hội đồng Nhân quyền LHQ tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ. Đây được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao đa phương Việt Nam trong năm 2014. Nhân dịp này, Thứ trưởng Hà Kim Ngọc đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí về những nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao đa phương Việt Nam năm 2014, đặc biệt trong lĩnh vực tham gia thúc đẩy quyền con người trên các diễn đàn quốc tế.
- Đề nghị Thứ trưởng cho biết trong năm 2013 vừa qua, chúng ta đã tham gia, đóng góp như thế nào vào các hoạt động tại các diễn đàn đa phương?
- Hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam trong năm 2013 đã diễn ra hết sức sôi động, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc. Ảnh: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Về duy trì môi trường hòa bình và ổn định, ngoại giao đa phương đã phát huy đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, yêu chuộng hoà bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam ở các diễn đàn quốc tế, đóng góp tích cực vào việc giảm căng thẳng và hỗ trợ giải quyết các vấn đề còn tồn tại ở các khu vực trên thế giới. Hoạt động đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta tại các diễn đàn đa phương đã thể hiện vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ tại Đại hội đồng LHQ khóa 68 tháng 9-2013 về “Nhân loại cần một thế giới không có chiến tranh, không còn đói nghèo” và việc Việt Nam luôn ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực chung về hòa bình, an ninh, giải trừ quân bị, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và chủ trương giải quyết hòa bình các xung đột trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế... đã được các nước và dư luận quốc tế đánh giá cao. Tại Đối thoại Shangri-La, Xin-ga-po tháng 5-2013, Thủ tướng Chính phủ lần đầu tiên đã chính thức công bố việc Việt Nam quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Quyết định này khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, sẵn sàng đóng góp một cách tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, ủng hộ các mục tiêu cao cả của LHQ về duy trì hòa bình trên thế giới.
Bên cạnh đó, ta luôn chú trọng bảo vệ lợi ích thiết thân của mình, nhất là trên các vấn đề an ninh, chủ quyền lãnh thổ, nhân quyền. Ta đã chủ động, có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chung vì quyền con người trên trường quốc tế, đã được ghi nhận và bầu chọn vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu cao nhất (184/192 phiếu). Trong năm 2013, ta đã tiến hành đối thoại về nhân quyền với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm tăng cường sự hiểu biết, qua đó giảm thiểu và vô hiệu hóa những nỗ lực muốn lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền để chống phá ta. Tại các diễn đàn đa phương, ta tiếp tục đấu tranh ngoại giao kịp thời khẳng định và giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước ta trên biển; tranh thủ sự ủng hộ đối với việc duy trì hòa bình, ổn định, tự do, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật Biển 1982.  
Về hợp tác-phát triển, ngoại giao đa phương đã chú trọng nghiên cứu các vấn đề lớn về kinh tế, thương mại, quản trị toàn cầu; kịp thời tham mưu về những chuyển biến mới của hội nhập kinh tế, tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế quốc tế, để từ đó đóng góp cho việc xây dựng các định hướng dài hạn về hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của ta. Ta đã tham gia tích cực, có nhiều đóng góp tại các diễn đàn quốc tế và khu vực trên tinh thần chủ động với nhiều sáng kiến, đồng thời lồng ghép các ưu tiên, quan tâm của ta, như tại khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hợp tác tiểu vùng Mê Công… Chúng ta hiện đang triển khai đàm phán với một loạt khuôn khổ thương mại tự do lớn như Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Đối tác kinh tế toàn diện khu vực Đông Á (RCEP), Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA)…
Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, nhờ việc ta luôn chủ động đóng góp vào các công việc chung tại các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã tham dự đầy đủ và ở cấp cao các hội nghị lớn của LHQ, các hội nghị quốc tế về phát triển xã hội, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, hội nghị của phong trào Không liên kết, Cộng đồng Pháp ngữ…và không dừng ở đó, ta đã chủ động có những đóng góp, sáng kiến cụ thể, có ý nghĩa thực tiễn. Vị thế của Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế càng được nâng cao qua tuyên bố của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 21 tháng 10-2013 về việc Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25 năm 2017, qua sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đối với công tác chuẩn bị đăng cai tổ chức Đại hội đồng IPU lần thứ 132 năm 2015.
- Thứ trưởng có thể cho biết những nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao đa phương Việt Nam trong năm 2014?
- Thứ nhất, chúng ta sẽ chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động tại các diễn đàn, các tổ chức quốc tế và khu vực như LHQ, APEC, ASEM... phối hợp thúc đẩy các cuộc đàm phán kinh tế, thương mại quan trọng, nhất là Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Khu vực mậu dịch tự do với Liên minh châu Âu (EU); tranh thủ mức cao nhất các nguồn lực từ các tổ chức quốc tế và khu vực, nhất là LHQ, cũng như từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, nhằm góp phần phát triển đất nước.
Thứ hai, chúng ta cần tiếp tục chủ động, tích cực đóng góp vào việc củng cố đoàn kết nội khối và xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội; tham gia sâu hơn vào đối thoại, hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch; thu hẹp khoảng cách phát triển; tăng cường giao lưu nhân dân. Chúng ta cũng sẽ tích cực tham gia vào các cuộc tham vấn chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc nhằm tiến tới ký Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).
Thứ ba, trong lĩnh vực nhân quyền, chúng ta sẽ tham gia tích cực tại Hội đồng Nhân quyền LHQ và Ủy ban Nhân quyền ASEAN; bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát chu kỳ II của LHQ; chủ động thúc đẩy và tăng cường đối thoại, chia sẻ thông tin với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong lĩnh vực nhân quyền, qua đó giảm thiểu và vô hiệu hóa việc lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá ta.
Thứ tư, chúng ta cần chuẩn bị và triển khai tốt việc cử lực lượng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, qua đó khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, sẵn sàng đóng góp một cách tích cực, có trách nhiệm vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế, ủng hộ các mục tiêu cao cả của LHQ.
- Xin cảm ơn Thứ trưởng!
PV (thực hiện)

Việt Nam đạt nhiều thành tựu trong phòng, chống AIDS

Đánh giá về kết quả của những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong công tác phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm trong năm 2013, Tiến sĩ Kristan Schoultz – Giám đốc Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) cho rằng, Việt Nam đã đưa ra được nhiều chiến lược hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu trong công tác này.
Tiến sĩ Kristan Schoultz. Ảnh Thuỳ Chi

Theo Tiến sĩ Kristan Schoultz, một số kết quả nổi bật mà Việt Nam đã đạt được trong năm qua là việc Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng pháp lệnh và ban hành loạt nghị định hướng dẫn thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, việc Thủ tướng Chính phủ thông qua đề án “Đảm bảo tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013 – 2020” sẽ đa dạng hoá các nguồn tài chính cho công tác phòng, chống HIV, bao gồm cả giải pháp bền vững, lâu dài.
Việc mở rộng các trung tâm điều trị nghiện tự nguyện tại cộng đồng, bao gồm điều trị Methadone nhằm giảm số lượng các trung tâm cai nghiện bắt buộc cũng là những nỗ lực lớn của Việt Nam trong công tác này.
Ngoài ra, việc Việt Nam có thể tự sản xuất Methadone trong nước với giá thành rẻ hơn nhập khẩu sẽ giúp cho Việt Nam dễ dàng đạt được chỉ tiêu quốc gia đã đề ra, đến năm 2015 sẽ điều trị Methadone cho 80.000 người nghiện trên toàn quốc.
Trong năm qua, Việt Nam đã mở rộng được chương trình điều trị ARV trên cơ sở các nghiên cứu khoa học mới về lợi ích dự phòng lây nhiễm HIV của việc điều trị sớm. Hiện Việt Nam cũng đang trong quá trình xây dựng kế hoạch đến 2015 sẽ tiếp cận bền vững nguồn thuốc ARV có chất lượng với giá cả hợp lý.
Mở rộng các chương trình can thiệp hiệu quả
Mặc dù đã đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên Tiến sĩ Kristan Schoultz cho rằng, Việt Nam cần phát huy nhiều nỗ lực hơn nữa để hoàn thành tốt mục tiêu thiên niên kỷ số 6 về phòng, chống HIV/AIDS. Đặc biệt, trong năm 2014, Việt Nam nên tập trung vào việc nhanh chóng mở rộng các chương trình can thiệp đã mang lại hiệu quả cao về dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị.
Cụ thể, Việt Nam cần tập trung hơn nữa vào các nhóm có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV. Đó là những người tiêm chích ma tuý, người mại dâm, khách mua dâm và nhóm nam tình dục đồng giới. Thực tế cho thấy, việc sử dụng chung bơm kim tiêm trong nhóm người nghiện chích ma tuý là đường lây nhiễm HIV chính ở Việt Nam, bên cạnh đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV hiện đang gia trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới. Vì vậy, nếu muốn khống chế sự bùng phát của dịch HIV, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhóm có nguy cơ cao và dễ tổn thương được tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ phòng, chống HIV. Đồng thời đảm bảo các dịch vụ điều trị cho người nghiện ma tuý theo các quy chuẩn quốc tế.
Việc tập trung mở rộng các chương trình can thiệp hiệu quả cũng sẽ quyết định các vấn đề về phân bổ nguồn lực. Bằng cách lựa chọn, tính toán để đồng vốn đầu tư đem lại hiệu quả nhiều hơn cho công cuộc phòng, chống HIV, Tiến sĩ Kristan Schoultz cho rằng, không chỉ tận dụng tối đa các nguồn lực đang có sẵn, mà còn cần đảm bảo rằng ứng phó quốc gia phòng, chống HIV đạt được hiệu quả tối ưu.
Thực tế cho thấy, các dịch vụ phòng, chống HIV đứng riêng rẽ thì các chi phí sẽ cao hơn, không mang lại sự thuận tiện, thuận lợi cho khách hàng và sẽ khó đảm bảo tính bền vững khi không còn các nguồn tài trợ nước ngoài. Việc lồng ghép các dịch vụ HIV vào các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tình dục, sức khoẻ sinh sản vào các dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em, vào hệ thống y tế công nói chung sẽ giúp tăng cường các dịch vụ phòng, chống HIV tới gần người dân hơn và mang lại hiệu quả lâu dài hơn.
Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình nên việc khảo sát mọi khả năng nhằm đa dạng hoá các nguồn tài chính và đặc biệt gia tăng đầu tư của quốc gia cho công tác phòng, chống HIV là rất quan trọng. Bên cạnh đó, việc chia sẻ trách nhiệm giữa trung ương và địa phương sẽ giúp Việt Nam duy trì hiệu quả hỗ trợ của các nhà tài trợ cho Việt Nam.
Tiến sĩ Kristan Schoultz tin tưởng rằng, trong thời gian tới Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS, ma tuý, mại dâm và sẽ đưa ra được nhiều hoạt động cần thiết để hướng tới hoàn thành tốt Mục tiêu thiên niên kỷ và các mục tiêu quốc gia trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.
“Các tổ chức quốc tế chúng tôi khẳng định sẽ luôn ủng hộ những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu”, Tiến sĩ Kristan Schoultz nói.

Thuỳ Chi

Tân Đại sứ Nhật Bản ấn tượng với thành tựu của Việt Nam

     Chiều 23/1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada đến chào xã giao nhân bắt đầu nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam

Tân Đại sứ Nhật Bản Fukada cho biết, 20 năm trước ông đã sang Việt Nam và có vinh dự trực tiếp tham gia ngay từ giai đoạn đầu xây dựng nền tảng cho hợp tác kinh tế giữa hai nước và khi trở lại Việt Nam lần này, hết sức ấn tượng về những thành tựu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam. Ảnh TTXVN
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam. Ảnh TTXVN

Tổng Bí thư hoan nghênh Đại sứ Hiroshi Fukada sang nhận trọng trách tại Việt Nam và bắt đầu nhiệm kỳ công tác vào thời điểm hai nước vừa kỷ niệm rất thành công 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và Năm Hữu nghị Việt-Nhật với nhiều sự kiện quan trọng. Quan hệ Việt-Nhật đang phát triển hết sức tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Việt Nam coi trọng và muốn phát triển quan hệ với Nhật Bản, mong muốn tiếp tục nhận được sự hợp tác, hỗ trợ và kinh nghiệm của Nhật Bản trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Tổng Bí thư tin tưởng, với tình cảm, kinh nghiệm và hiểu biết về Việt Nam, Đại sứ Hiroshi Fukada sẽ có những đóng góp tích cực, thiết thực, hiệu quả, góp phần đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản đi vào chiều sâu và bền vững, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước.
Đại sứ Hiroshi Fukada cho biết, 20 năm trước ông đã sang Việt Nam và có vinh dự trực tiếp tham gia ngay từ giai đoạn đầu xây dựng nền tảng cho hợp tác kinh tế giữa hai nước và khi trở lại Việt Nam lần này, hết sức ấn tượng về những thành tựu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua.
Đại sứ Hiroshi Fukada cam kết sẽ tiếp tục nỗ lực hết sức mình góp phần tăng cường tình cảm hữu nghị, thúc đẩy và mở rộng hợp tác nhằm phát triển mạnh mẽ quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Theo Bình Minh
Chinhphu.vn

Năm 2014, Việt Nam sẽ tiếp tục hội nhập quốc tế sâu sắc

Các nước chúc mừng Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu bầu cao nhất. (Ảnh: Lê Dương-Quang Tuyến/Vietnam+)
Các nước chúc mừng Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu bầu cao nhất. (Ảnh: Lê Dương-Quang Tuyến/Vietnam+)

Năm 2014, trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẽ tiếp tục hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn nữa, tham gia sâu hơn vào các liên kết khu vực, tăng cường thực hiện các cam kết quốc tế; nỗ lực cùng các nước, các tổ chức quốc tế đưa quan hệ đi vào chiều sâu, bền vững và ổn định hơn nữa; cùng cộng đồng quốc tế vượt qua khó khăn kinh tế, thu hẹp những khác biệt, xử lý những vấn đề toàn cầu.

Phát biểu tại tiệc chiêu đãi Ngoại giao đoàn nhân dịp Năm mới 2014 diễn ra tối 20/1 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh, năm 2013 qua đi với những biến động rất phức tạp. Kinh tế thế giới đã có những dấu hiệu phục hồi tích cực song vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Năm qua, Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các đối tác, đẩy mạnh triển khai định hướng “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”, đóng góp vào thành tựu chung của đất nước. Trên bình diện đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, Việt Nam đã phát huy vai trò của một thành viên có trách nhiệm, đóng góp tích cực trong các vấn đề an ninh, phát triển chung của khu vực và thế giới.

Việt Nam đã quyết định tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nỗ lực cùng các nước hoàn thành trọng trách tại một số cơ chế, tổ chức quan trọng như Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Ủy ban Di sản thế giới của Tổ chức UNESCO.

Phó Thủ tướng cho rằng, năm 2014 có ý nghĩa rất quan trọng trong hướng tới hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 2011-2015. Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục đồng lòng dốc sức vượt qua những trở ngại, khó khăn đó để hoàn thành các mục tiêu đề ra.

Tại buổi gặp mặt, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo cảm ơn những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác hiệu quả của bạn bè quốc tế dành cho nhân dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong thời gian qua, đồng thời tin tưởng sự hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường xây dựng lòng tin, tôn trọng lợi ích của nhau là nền tảng, phương cách hiệu quả nhất để cùng vượt qua khó khăn, hướng tới mục tiêu hòa bình và phát triển trong thời gian tới.

Thay mặt Đoàn Ngoại giao, ông El Houcine Fardani, Đại sứ Vương quốc Maroc tin tưởng Việt Nam sẽ phát huy những thành tựu của năm 2013 để tiếp tục đạt được nhiều thành công về kinh tế xã hội trong năm 2014, đồng thời tiếp tục tập trung tái cơ cấu nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại hóa vào năm 2020./.